BlogSứcKhoẻ Sức khoẻ cho người Việt

7 món ăn không tốt cho sức khỏe trẻ nhỏ và những lời đồn cần bỏ

Sức Khỏe Trẻ Em Đăng Cập nhật 9 phút đọc

Món không tốt cho trẻ nhỏ phần lớn là sai tuổi, sai lượng hoặc sai cách chế biến. Bài viết xếp theo mức nguy hiểm thật và sửa vài lời đồn cũ về bột ngọt, trứng muối.

7 món ăn không tốt cho sức khỏe trẻ nhỏ

Những món không tốt cho trẻ nhỏ, xếp theo mức nguy hiểm thật: mật ong cho trẻ dưới 1 tuổi, thức ăn dễ hóc nghẹn cho trẻ dưới 4–5 tuổi, đồ uống có đường, đồ ăn mặn chế biến sẵn, dùng sữa không phù hợp tuổi, "đồ bổ" như nhân sâm và gan ăn quá nhiều, cá nhiều thuỷ ngân và đồ có caffeine. Phần lớn không phải "độc", mà là sai tuổi, sai lượng hoặc sai cách chế biến. Bài viết cũng sửa vài lời đồn cũ, như bột ngọt gây thiếu kẽm hay sữa đậu nành có nhôm hại não.

1. Mật ong cho trẻ dưới 1 tuổi

Đây là món duy nhất trong danh sách cần tránh tuyệt đối theo độ tuổi. Mật ong có thể chứa bào tử vi khuẩn gây ngộ độc thịt (botulism). Ruột trẻ dưới 12 tháng chưa đủ trưởng thành để ngăn bào tử nảy mầm và sinh độc tố. Trẻ có thể táo bón, bú yếu, khóc yếu, mặt ít biểu cảm, người mềm nhũn, khó thở.

  • Không chấm mật ong vào núm vú, không pha nước mật ong trị ho, không bôi mật ong "chữa tưa lưỡi" cho trẻ dưới 1 tuổi.
  • Nấu chín mật ong cũng không loại bỏ chắc chắn bào tử.
  • Từ 1 tuổi trở lên, mật ong dùng được với lượng nhỏ như một loại đường.

2. Thức ăn dễ hóc nghẹn cho trẻ dưới 4–5 tuổi

Hóc nghẹn là một trong những tai nạn ăn uống nguy hiểm nhất ở trẻ nhỏ vì đường thở rất hẹp. Thủ phạm thường là thức ăn tròn, trơn, cứng hoặc dẻo dính:

Thức ănCách cho ăn an toàn hơn
Lạc, hạt điều, hạt dẻ nguyên hạtKhông cho trẻ dưới 5 tuổi ăn nguyên hạt; nghiền mịn hoặc dùng bơ hạt phết mỏng
Nho, cà chua bi, nhãn, vảiBỏ hạt, cắt dọc làm bốn
Xúc xích, chả cắt khoanh trònCắt dọc thành que nhỏ rồi cắt ngắn
Kẹo cứng, kẹo dẻo, kẹo cao su, bỏng ngôKhông cho trẻ nhỏ
Thạch rau câu dạng cốc nhỏ hút một hơiKhông để trẻ hút cả miếng; cắt nhỏ, cho ăn bằng thìa
Cà rốt sống, táo sống miếng toHấp mềm hoặc nạo sợi

Quan trọng không kém món ăn là cách ăn: trẻ phải ngồi yên khi ăn, có người lớn ở cạnh, không vừa chạy vừa ăn, không ép ăn khi trẻ đang khóc, không cho ăn trên xe máy.

3. Nước ngọt, trà sữa, nước tăng lực và nước ép

Đồ uống có đường cung cấp nhiều năng lượng mà không làm trẻ no, góp phần gây sâu răng, thừa cân và làm trẻ bỏ bữa chính. Nước tăng lực, trà sữa còn có caffeine.

  • Trẻ dưới 1 tuổi: chỉ cần sữa mẹ hoặc sữa công thức, và nước lọc khi đã ăn dặm. Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) khuyên không cho trẻ dưới 1 tuổi uống nước ép trái cây.
  • Trẻ lớn hơn: nước ép (kể cả tự ép, không thêm đường) chỉ nên là lượng nhỏ mỗi ngày, uống trong bữa ăn bằng cốc, không ngậm bình. Trái cây nguyên miếng tốt hơn vì còn chất xơ và lâu no.
  • Nước lọc và sữa là đồ uống chính của trẻ.

4. Đồ mặn, đồ chế biến sẵn

Thận trẻ nhỏ chưa xử lý tốt lượng muối cao, và thói quen ăn mặn hình thành rất sớm. Với trẻ dưới 1 tuổi, không cần nêm muối, nước mắm, hạt nêm vào bột, cháo. Trẻ lớn hơn nên hạn chế:

  • Mì gói, xúc xích, lạp xưởng, chả, thịt nguội, khô mực, khô bò.
  • Snack khoai tây, bánh quy mặn.
  • Trứng muối, dưa cà muối, đồ kho mặn.

Đính chính về trứng muối: bài viết cũ nói làm trứng muối "phải dùng chì". Trứng vịt muối thông thường chỉ được ngâm hoặc ủ với muối; vấn đề của nó là quá mặn. Chì là mối lo với một số cách làm trứng bắc thảo theo kiểu cũ; vì vậy nên chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng và chỉ cho trẻ ăn thỉnh thoảng, lượng nhỏ.

trung

5. Dùng sai loại sữa so với độ tuổi

  • Dưới 12 tháng: sữa bò tươi không nên là đồ uống chính, vì ít sắt, dễ gây thiếu máu thiếu sắt và không phù hợp với thận trẻ. Có thể dùng một ít trong nấu ăn.
  • Sữa đậu nành tự nấu, sữa hạt (óc chó, hạnh nhân, gạo): không thay được sữa mẹ hay sữa công thức cho trẻ dưới 1 tuổi; ở trẻ nhỏ hơn 2 tuổi cũng không nên dùng làm sữa chính vì thường ít đạm, ít chất béo, ít canxi. Bài cũ cho rằng sữa đậu nành "chứa nhôm hại đại não": đó không phải lý do để tránh. Lý do thực tế là nó không đủ dinh dưỡng để thay sữa.
  • Trẻ dị ứng đạm sữa bò cần bác sĩ hướng dẫn chọn loại sữa thay thế.

6. "Đồ bổ" và gan động vật ăn quá nhiều

Nhân sâm, nhung hươu, sữa ong chúa, thuốc bổ không rõ nguồn gốc

Trẻ khoẻ mạnh, ăn uống bình thường không cần tẩm bổ. Nhân sâm và các loại thuốc bổ có chứa sâm có thể khiến trẻ bứt rứt, mất ngủ, quấy khóc. Sữa ong chúa có thể gây dị ứng nặng ở người cơ địa dị ứng, hen suyễn. Thuốc bổ, cao, siro "tăng cân, ăn ngon" bán trôi nổi có trường hợp bị phát hiện trộn corticoid hoặc thuốc kích thích ăn. Muốn bổ sung bất kỳ thứ gì, hãy hỏi bác sĩ nhi.

Gan động vật

Gan giàu sắt và vitamin A, là món tốt nếu dùng đúng. Nhưng vitamin A trong gan rất cao, và thừa vitamin A kéo dài có thể gây hại. Nhiều hướng dẫn dinh dưỡng khuyên chỉ cho trẻ ăn gan lượng nhỏ và không thường xuyên (không ăn hằng ngày), đặc biệt khi trẻ đang uống thêm vitamin A hay dầu gan cá. Gan không "chứa độc tố tích tụ" như bài cũ mô tả; lý do hạn chế là vitamin A.

gan

7. Cá nhiều thuỷ ngân và đồ có caffeine

Cá: cá là nguồn đạm và chất béo tốt cho trẻ. Chỉ nên tránh vài loại cá biển lớn, sống lâu, tích luỹ nhiều thuỷ ngân như cá kiếm, cá mập, cá thu vua, cá ngừ mắt to. Cá nhỏ, cá nước ngọt, cá hồi, cá basa, cá thu nhỏ đều dùng được. Cùng nguyên tắc này áp dụng cho mẹ bầu, xem bài mẹ bầu tránh ăn gì để không ảnh hưởng IQ của trẻ.

Caffeine: cà phê, trà đặc, nước tăng lực, trà sữa không phù hợp với trẻ nhỏ: gây mất ngủ, tim đập nhanh, bồn chồn. Sô-cô-la có một lượng nhỏ caffeine và nhiều đường; thỉnh thoảng ăn một miếng không sao. Lời đồn "sô-cô-la phá hoại canxi trong sữa, làm trẻ chậm lớn" là phóng đại; vấn đề chính là đường và việc ăn vặt lấn át bữa chính.

Đính chính về bột ngọt

Bài viết cũ nói bột ngọt là "glutamate kẽm" và gây thiếu kẽm cấp. Điều này sai: bột ngọt là mononatri glutamat (muối natri của axit glutamic). Ở lượng dùng trong nấu ăn, các cơ quan đánh giá an toàn thực phẩm quốc tế xem bột ngọt là an toàn, và không có bằng chứng nó gây thiếu kẽm. Lý do nên dùng ít cho trẻ là bột ngọt và hạt nêm góp thêm natri, và trẻ quen vị đậm sẽ khó ăn món nấu nhạt. Muốn trẻ ăn ngon hơn, hãy dùng nước dùng xương, rau củ ngọt tự nhiên, đa dạng món, thay vì thêm gia vị.

Thêm một nhóm hay bị quên: đồ sống, tái

Trứng lòng đào chảy, gỏi cá sống, sushi, thịt tái, sữa chưa tiệt trùng, rau sống rửa chưa sạch có nguy cơ nhiễm khuẩn salmonella, listeria, ký sinh trùng. Trẻ nhỏ dễ bị nặng hơn người lớn. Nấu chín kỹ là nguyên tắc đơn giản nhất. Khi bắt đầu ăn dặm, các món nghiền nấu chín như chuối, bí, khoai là lựa chọn dễ làm; xem gợi ý theo tháng tuổi ở bài món ăn dặm từ chuối.

Khi nào nên dừng và hỏi bác sĩ

Gọi cấp cứu 115 hoặc đến viện ngay nếu:

  • Trẻ đang ăn bỗng ho sặc dữ dội, không khóc được, không nói được, môi tím, thở rít: nghi hóc dị vật. Trẻ dưới 1 tuổi: vỗ lưng 5 lần và ấn ngực 5 lần; trẻ lớn hơn: thủ thuật ép bụng (Heimlich), trong khi chờ hỗ trợ. Cha mẹ nên học sơ cứu hóc nghẹn trước khi có tình huống.
  • Trẻ dưới 1 tuổi sau khi ăn mật ong bị táo bón, bú yếu, khóc yếu, mềm nhũn.
  • Sau khi ăn món mới: sưng môi, mắt, nổi mề đay khắp người, nôn nhiều, thở khò khè.
  • Trẻ co giật, lơ mơ sau khi uống thuốc bổ, cao, sâm.

Hỏi bác sĩ nhi khi trẻ biếng ăn kéo dài, chậm tăng cân, xanh xao, hoặc khi bạn muốn cho trẻ dùng thuốc bổ, sữa thay thế, thực phẩm chức năng.

Hỏi đáp nhanh

Trẻ mấy tuổi thì ăn được mật ong?

Từ 12 tháng tuổi trở lên. Trước đó tránh hoàn toàn, kể cả lượng nhỏ hay mật ong đã nấu.

Có cần kiêng hẳn bột ngọt cho trẻ không?

Không bắt buộc kiêng tuyệt đối với trẻ lớn, nhưng không cần nêm cho trẻ dưới 1 tuổi và nên dùng ít, vì nó góp thêm natri và làm trẻ quen vị đậm.

Bao lâu cho trẻ ăn gan một lần?

Nên cho lượng nhỏ, không ăn hằng ngày. Nếu trẻ đang uống vitamin A hoặc dầu gan cá, hỏi bác sĩ nhi để tránh thừa vitamin A.

Trẻ 2 tuổi uống sữa đậu nành thay sữa bò được không?

Có thể dùng loại sữa đậu nành có bổ sung canxi và vitamin, nếu trẻ ăn đủ các nhóm chất khác. Sữa đậu nành tự nấu thường ít canxi, không nên là nguồn sữa chính.

Thỉnh thoảng cho trẻ ăn bánh kem, sô-cô-la có sao không?

Không sao nếu chỉ là thỉnh thoảng, sau bữa chính, và trẻ được chải răng. Vấn đề là khi đồ ngọt trở thành bữa phụ hằng ngày, lấn át cơm, rau, thịt cá.

Nguồn tham khảo

  • Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) – who.int
  • Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) – healthychildren.org
  • Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) – cdc.gov
  • NHS (Anh) – nhs.uk
  • Viện Dinh dưỡng Quốc gia (Bộ Y tế Việt Nam)

Bài liên quan

Những Hoạt chất dinh dưỡng đang tố cáo sức khỏe bạn đang gặp vấn đề
Những Hoạt chất dinh dưỡng đang tố cáo sức khỏe bạn đang gặp vấn đề
14/05
Tại sao không nên ăn bánh mì?
Tại sao không nên ăn bánh mì?
04/02
Hạt dẻ sống - Hạt dẻ chín: Loại nào tốt hơn?
Hạt dẻ sống - Hạt dẻ chín: Loại nào tốt hơn?
09/01
Những lưu ý về dinh dưỡng cho người cao tuổi được khỏe mạnh
Những lưu ý về dinh dưỡng cho người cao tuổi được khỏe mạnh
02/10
10 cách mẹ nên làm để con thông minh
10 cách mẹ nên làm để con thông minh
21/02
12 loại thực phẩm cực tốt cho bé yêu
12 loại thực phẩm cực tốt cho bé yêu
21/02

Nhiều người đang đọc

Những điều chưa biết về vùng kín của phụ nữ: giải phẫu, pH và khí hư bình thường
Những điều chưa biết về vùng kín của phụ nữ: giải phẫu, pH và khí hư bình thường
Âm hộ và âm đạo là hai phần khác nhau; âm đạo khoẻ có pH axit nhẹ và tự làm sạch bằng dịch tiết. Hiểu đúng giúp chị em biết lúc nà
Giới Tính 04/07 8 phút đọc
Cây rau trai chữa viêm họng: dùng được đến đâu và cách phân biệt viêm họng cần kháng sinh
Cây rau trai chữa viêm họng: dùng được đến đâu và cách phân biệt viêm họng cần kháng sinh
Rau trai là rau dại ăn được, nước sắc có thể làm dịu họng nhưng không thay kháng sinh khi viêm họng do liên cầu. Biết phân biệt vi
Đông Y 10/09 7 phút đọc
Thủ dâm – sướng có, khổ có: cân lại lợi ích theo bằng chứng và cái khổ ít ai nói
Thủ dâm – sướng có, khổ có: cân lại lợi ích theo bằng chứng và cái khổ ít ai nói
Thủ dâm có lợi ích thật nhưng khiêm tốn hơn lời đồn. Cái khổ phần lớn đến từ cảm giác tội lỗi, sự giấu giếm và lệch nhịp giữa hai
Sức Khỏe Nam Giới 07/10 8 phút đọc