BlogSứcKhoẻ Sức khoẻ cho người Việt

Dinh dưỡng cho người bệnh khớp

Bệnh Thường Gặp Đăng 6 phút đọc

Bài đăng năm 2015, đã hơn 11 năm. Kiến thức y khoa và hướng dẫn điều trị thay đổi theo thời gian — hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi áp dụng. Về nội dung trên trang

Thời tiết khi xuân về là điều kiện thích hợp để các bệnh về khớp gia tăng, tái phát, đặc biệt là thoái hóa khớp. Vì vậy, người bị bệnh khớp cần có chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt hợp lý để giảm đau và giảm sự tiến triển xấu của khớp. Thời tiết sang xuân mưa nhiều, lạnh, gió mùa về, áp thấp nhiệt đới…

Dinh dưỡng cho người bệnh khớp
Thời tiết khi xuân về là điều kiện thích hợp để các bệnh về khớp gia tăng, tái phát, đặc biệt là thoái hóa khớp. Vì vậy, người bị bệnh khớp cần có chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt hợp lý để giảm đau và giảm sự tiến triển xấu của khớp. Thời tiết sang xuân mưa nhiều, lạnh, gió mùa về, áp thấp nhiệt đới đều làm cho không khí trở nên lạnh, càng làm cho người bệnh khớp bị đau nhức, khó chịu. Nguyên nhân đau nhức khớp là do không khí lạnh thâm nhập cơ thể qua đường da bởi các lỗ chân lông, làm cho mạch máu tại các vùng da đó co lại, máu đến các bao khớp, dây chằng, khớp xương bị hạn chế hoặc rất ít gây nên thiếu máu nuôi dưỡng khớp, nuôi dưỡng các màng hoạt dịch và sụn khớp, chúng bị kích thích gây nên đau nhức khớp. Vì vậy, một số người bệnh thường ngày đã bị các bệnh về khớp mạn tính (thoái hóa cột sống, thoái hóa sụn khớp, thoát vị đĩa đệm, viêm dây chằng, lao cột sống, khớp bàn tay, ngón tay...) hoặc đã, đang bị viêm khớp gây đau nhức, nay gặp thời tiết lạnh càng đau nhiều hơn. Ngoài ra, ở những người bị bệnh gút mạn tính, loãng xương cũng gây đau nhức xương khớp, nếu bị lạnh, bệnh càng gia tăng, đặc biệt là về đêm hoặc sau uống rượu, bia, ăn các loại hải sản hoặc phủ tạng động vật. ca hoi

Người bệnh khớp nên ăn nhiều cá, đặc biệt là cá hồi giàu omega 3.

Đau nhức xương khớp mùa lạnh có thể gặp ở người béo phì, thừa cân do các khớp phải chịu trọng lực của cơ thể đè lên các xương khớp, thêm vào đó còn có trọng lực của áo quần mùa đông vừa nặng vừa gây khó khăn trong vận động càng làm cho xương khớp bị đau nhức. Vì vậy, khi bị bệnh về khớp, cần được chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị đúng, kịp thời sẽ hạn chế sự gia tăng của bệnh, đồng thời hạn chế biến chứng của chúng, đặc biệt là thoái hóa khớp, bệnh gút. Tuy vậy, cho tới nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu để làm khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp cũng như bệnh gút. Điều trị chủ yếu nhằm mục đích giảm đau, duy trì vận động khớp và làm chậm tiến triển của bệnh. Các phương thức điều trị bao gồm nội khoa (dùng thuốc hoặc không dùng thuốc) và ngoại khoa (phục hồi và thay khớp). Để điều trị nội khoa, ngay ở giai đoạn đau khớp, người bệnh cần phải nghỉ ngơi, bất động khớp, tránh tất cả những hoạt động gây đau và xoa bóp nhẹ nhàng với một số thuốc thoa ngoài da (dầu gió, cao sao vàng...) nhằm làm cho mao mạch vùng da của khớp bị đau giãn ra, máu sẽ đến nhiều hơn để cung cấp cho dây chằng, bao hoạt dịch, sụn khớp, từ đó sẽ giảm đau và ngay sau khi hết đau cấp, người bệnh phải tập vận động khớp nhẹ nhàng. Trong trường hợp cần thiết, cần đi khám bệnh để được bác sĩ khám và cho thuốc điều trị chống viêm, giảm đau. Đối với một số khớp quan trọng (trật khớp háng bẩm sinh, tiêu chỏm xương, nhuyễn sụn xương bánh chè, lệch trục đầu gối...), khi điều trị nội khoa không có kết quả có thể chuyển sang điều trị ngoại khoa. Vấn đề dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với người bệnh khớp. Cần có chế dộ dinh dưỡng tốt, lý tưởng nhất là thức ăn có đầy đủ vitamin, khoáng chất, chất chống ôxy hóa và các chất dinh dưỡng khác. Với người béo phì, thực hiện chế độ ăn uống giảm cân. Trong khí đó, người gầy bị viêm đa khớp dạng thấp nên ăn nhiều bữa nhỏ để hấp thu dinh dưỡng tốt hơn. Đối với bệnh nhân bị thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp, cần cung cấp lượng đạm nhiều hơn, sử dụng dầu thực vật, dầu omega 3 và dầu cá. Tránh ăn các loại thịt có màu đỏ (trâu, bò, chó), nên ăn thịt có màu trắng (lợn, gà, vịt), cá, tôm, cua, sò, ốc, hến, ngao. Người bệnh khớp cũng nên ăn nhiều rau và trái cây tươi như đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái cây này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, các hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Cần uống đủ lượng nước cần thiết hàng ngày (khoảng 1,5 lít). Đối với bệnh nhân bị gút, cần hạn chế đạm, các loại phủ tạng động vật và không uống rượu, bia. Cần hạn chế các loại thức ăn chế biến sẵn (thịt hun khói, xúc xích, lạp sườn) bởi vì chúng tạo ra một số chất gây kích thích phản ứng viêm và thúc đẩy kết dính tiểu cầu, gây giãn mạch, sung huyết, tăng cảm giác đau. Hạn chế thực phẩm gây tăng lipid máu gây bất lợi cho người đang bị viêm khớp vì xúc tác phản ứng viêm tấy ở mặt trong bao khớp như thịt mỡ, bơ, xúc xích, dăm bông, bánh kẹo, đặc biệt ở người vừa bị bệnh khớp vừa bị tăng mỡ máu, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch. Điều quan trọng cần lưu ý là mọi loại thức ăn, nước uống cần có độ ấm, tránh lạnh. Để phòng ngừa và hạn chế các cơn đau, nên tập luyện thể dục nhẹ nhàng có tác dụng thư giãn các khớp, tránh tình trạng gây cứng khớp, tuy vậy, cần nghỉ ngơi khi đau. Cần giữ ấm cơ thể bằng cách mặc đủ ấm và khi ra khỏi nhà, tay đi găng, chân có tất, cổ quàng khăn, đeo khẩu trang, đầu đội mũ ấm.   Theo Suckhoedoisong

Bài liên quan

Coi chừng thoái hóa khớp do tập thể thao sai cách
Coi chừng thoái hóa khớp do tập thể thao sai cách
15/09
Phụ nữ cẩn trọng với thoái hóa khớp bàn tay
Phụ nữ cẩn trọng với thoái hóa khớp bàn tay
20/12
Điểm khác nhau giữa các loại bệnh khớp thường gặp
Điểm khác nhau giữa các loại bệnh khớp thường gặp
02/12
Các món ăn hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp
Các món ăn hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp
03/06
Các dấu hiệu ung thư đại trực tràng
Các dấu hiệu ung thư đại trực tràng
07/01
Một số bệnh thường gặp ở chân
Một số bệnh thường gặp ở chân
09/01

Nhiều người đang đọc

Sốt phát ban ở trẻ: phân biệt ban đỏ trẻ nhỏ, sởi, rubella, sốt xuất huyết và những câu hỏi thường gặp
Sốt phát ban ở trẻ: phân biệt ban đỏ trẻ nhỏ, sởi, rubella, sốt xuất huyết và những câu hỏi thường gặp
Sốt phát ban là cách gọi chung của nhiều bệnh: ban đỏ trẻ nhỏ, sởi, rubella, sốt xuất huyết. Phân biệt dựa vào tuổi, thời điểm nổi
Sức Khỏe Trẻ Em 12/03 8 phút đọc
Nặn mụn không để lại sẹo: mụn nào được nặn, mụn nào phải để yên
Nặn mụn không để lại sẹo: mụn nào được nặn, mụn nào phải để yên
Cách chắc chắn nhất để không bị sẹo là không tự nặn mụn. Nếu vẫn làm, chỉ đụng vào mụn đầu trắng nông, nhẹ tay, sạch sẽ; mụn bọc,
Làm Đẹp 19/01 8 phút đọc
13 điểm nhạy cảm trên cơ thể nàng: mỗi người một khác, hỏi thay vì đoán
13 điểm nhạy cảm trên cơ thể nàng: mỗi người một khác, hỏi thay vì đoán
Môi, tai, cổ, ngực, đùi trong, âm vật… đều giàu đầu mút thần kinh, nhưng cùng một cái chạm người này thích, người kia ghét. Cách d
Giới Tính 01/11 9 phút đọc