BlogSứcKhoẻ Sức khoẻ cho người Việt

Nguyên nhân gây ho

Bệnh Thường Gặp Đăng 6 phút đọc

Bài đăng năm 2014, đã hơn 12 năm. Kiến thức y khoa và hướng dẫn điều trị thay đổi theo thời gian — hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi áp dụng. Về nội dung trên trang

Ho là một động tác thở ra mạnh và đột ngột, gồm có ba thời kỳ: - Hít vào sâu và nhanh. - Bắt đầu thở ra nhanh mạnh, có sự tham gia của các cơ thở ra cố. Lúc đó thanh môn đóng lại, làm áp lực tăng cao trong lồng ngực. - Thanh môn mở ra đột ngột, không khí bị ép trong phổi được tống ra ngoài gây ho.…

Nguyên nhân gây ho
Ho là một động tác thở ra mạnh và đột ngột, gồm có ba thời kỳ: - Hít vào sâu và nhanh. - Bắt đầu thở ra nhanh mạnh, có sự tham gia của các cơ thở ra cố. Lúc đó thanh môn đóng lại, làm áp lực tăng cao trong lồng ngực. - Thanh môn mở ra đột ngột, không khí bị ép trong phổi được tống ra ngoài gây ho. Sinh bệnh học. Người ta có thể chủ động ho, nhưng trong đa số trường hợp ho xảy ra ngoài ý muốn, và động tác này có tính chất phản xạ. Cung phản xạ gồm: 1. Đường dẫn truyền kích thích. - Nơi kích thích: - Trên đường hô hấp. + Khoảng liên phễu. + Chạc phân chia khí quản. + Khí quản – phế quản. + Màng phổi, trung thất. + Họng, chống lưỡi. - Ngoài đường hô hấp. + Oáng tai. + Miệng, ngoài da, gan, tử cung (ít gặp). - Thần kinh dẫn truyền: các kích thích được dây X dẫn truyền đến trung tâm ho. 2. Trung tâm ho. Hiện nay người ta cho rằng trung tâm ho ở hành tuỷ  vùng sân não thất 4. 3. Đường dẫn truyền vận động. Các dây thần kinh điều khiển động tác thở ra: dây X, liên sườn, dây sống, thần kinh hoành, dẫn truyền những xung động từ hành tuỷ  và gây ho.

ho2

Lâm sàng. Phân tích tính chất ho trên lâm sàng: ho khan hay có đờm, nhịp điệu và tần số, ảnh hưởng của ho lên toàn thân, âm sắc của tiếng ho; ta có thể chia ra các loại. 1. Ho có đờm. Sau khi ho khạc ra đờm. Có thể đờm đặc hoặc loãng, lẫn máu, mủ, bã đậu, khối lượng có thể ít hoặc nhiều. 2. Ho khan. Không khạc ra đờm, mặc dù người bệnh có thể ho nhiều. Tuy nhiên có người nuốt đờm, hoặc vì không muốn khạc, hoặc vì không biết khạc cho nên cần phải thông dạ dày hoặc xét nghiệm phân. Biện pháp này áp dụng cho người ho khan và nhất là cho trẻ em. 3. Ho húng hắng. Ho từng tiếng, thường không ho mạnh. Nên phân biệt với “đằng hắng”, vì động tác này  không đòi hỏi sự tham gia của các cơ thở ra mà chỉ cần cơ ở thanh quản. 4. Ho thành cơn. Ho nhiều lần kế tiếp nhau trong một thời gian ngắn, điển hình là cơn ho gà; người bệnh ho liền một cơn sau đó hít một hơi dài và tiếp tục ho nữa. Cơn ho kéo dài thường gây tăng áp lực trong lồng ngực, gây ứ huyết tĩnh mạch chủ trên, làm cho người bệnh đỏ mặt, tĩnh mạch cổ phồng, cơn ho có thể làm chảy nước mắt, đôi khi còn gây ra phản xạ nôn nữa. Người bệnh có thể đau ê ẩm ngực, lưng và bụng do các cơ hô hấp co bóp quá mức. 5. Thay đổi âm sắc tiếng ho. Tiếng ông ổng trong viêm thanh quản, giọng đôi khi liệt thanh quản, khản họng trong viêm thanh quản nặng do bạch hầu. Nguyên nhân Các tác nhân kích thích cung phản xạ ho đều có thể gây ho. Dưới đây là một số nguyên nhân hay gặp. 1. Trên đường hô hấp. - Viêm họng cấp hoặc mạn tính. - Viêm khí quản, phế quản cấp. Ở giai đoạn đầu chỉ có xung huyết phế quản, nên người bệnh ho khan, tới giai đoạn phế quản tiết dịch lại ho có đờm. - Viêm phế quản mạn: ho kéo dài trong nhều năm, thường nhiều đờm. Có thể khỏi ho trong một thời  gian, nhưng rất dễ tái phát khi có hội nhiễm hoặc tiếp xúc với các tác nhân gây viêm: lạnh, ẩm, hơi độc… -  Giãn phế quản: có thể tiên phát, nhưng thường là hậu phát của một bệnh mạn tính  đường hô hấp: viêm phế quản mạn, áp xe, lao phổi, v.v… người bệnh thường ho nhiều về sáng sớm, nhiều đờm, đựng đờm trong cốc lắng thành 3 lớp điển hình. Người bị phế quản có thể ho ra máu. - Tổn thương ở nhu mô phổi. + Viêm phổi: đau ngực, ho khan, đột ngột sốt rét rồi sốt nóng. Sau đó có thể ho ra đờm màu gỉ sắt, rất quánh, cấu tạo bởi sợi tơ huyết và các hồng cầu. + Lao phổi: thường ho húng hắng có thể khạc ra đờm trắng hoặc bã đậu, hoặc máu. Toàn trạng gây sút dần, sốt âm ỉ kéo dài. Xét nghiệm đờm tìm vi khuẩn lao là động tác cần thiết cho chẩn đoán. + Apxe phổi: Tính chất ho không đặc hiệu. Ộc mủ là dấu hiệu chỉ điểm quan trọng của ápxe phổi. + Bụi phổi: Ho kéo dài. Bệnh cảnh có thể giống lao phổi. Xét nghiệm đờm có thể lấy  bụi gây bệnh, chụp phổi thấy nhiều nốt mờ nhỏ rải rác hai bên phổi. Bệnh bụi phổi là nguyên nhân quan trọng gây suy hô hấp và tim phổi mạn tính trong công nghiệp. -  Trung thất: Áp xe, u trung thất có thể gây ho. Không nên chẩn đoán viêm phế quản một cách quá dễ dàng trước khi kiểm tra kỹ càng đường hô hấp và trung thất. - Màng phổi: Viêm màng phổi thường gây ho và ho khan. Nhưng triệu chứng quyết định cho chẩn đoán là tiếng cọ màng phổi hoặc chọc dò có nước. 2. Tim mạch. Tăng áp lực tiểu tuần hoàn có thể gây khó thở, ho khan hoặc ho ra máu. Không nên kết luận vội  vã là viêm phế quản hoặc lao đối với mọi trường hợp khó thở và ho nhiều, có khi ra máu, trước khi khám toàn diện, nhất là khám tim. Các tổn thương tim mạch gây ứ trệ tuần hoàn đều có thể gây ho: hẹp van hai lá, tăng huyết áp có suy tim… 3. Nguyên nhân ở xa đường hô hấp. Ho chỉ là triệu chứng: tổn thương ở gan, tử cung có thể gây ho, lạnh đột ngột có thể gây ho. Một bệnh toàn thể như cúm, thương hàn… thường có biểu hiện hô hấp cùng với các triệu chứng  toàn thân khác. 4. Nguyên nhân tinh thần: Một số trường hợp rối loạn tinh thần có biểu hiện ho nhiều, nên không có tổn thương trên đường hô hấp. Nhưng đó là những trường hợp hiếm gặp. Theo Benh

Bài liên quan

Thủ phạm gây ho kéo dài
Thủ phạm gây ho kéo dài
31/10
Ho kéo dài ở người cao tuổi: nguyên nhân thường gặp và cách điều trị đúng
Ho kéo dài ở người cao tuổi: nguyên nhân thường gặp và cách điều trị đúng
18/12
Ho có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh nguy hiểm
Ho có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh nguy hiểm
02/12
Những nguyên nhân gây ho: phân theo thời gian ho và dấu hiệu đi kèm
Những nguyên nhân gây ho: phân theo thời gian ho và dấu hiệu đi kèm
09/03
Các nguyên nhân chính của ho ra máu và khi nào phải cấp cứu
Các nguyên nhân chính của ho ra máu và khi nào phải cấp cứu
10/08
Những nguyên nhân gây sốt
Những nguyên nhân gây sốt
10/08

Nhiều người đang đọc

Những điều khiến nàng hài lòng khi "yêu": dạo đầu, thời gian hưng phấn và cơn đau không nên chịu đựng
Những điều khiến nàng hài lòng khi "yêu": dạo đầu, thời gian hưng phấn và cơn đau không nên chịu đựng
Phần lớn phụ nữ hài lòng khi được dạo đầu đủ lâu, được chạm theo cách mình thích và không phải chịu đau. Đau khi quan hệ không phả
Giới Tính 08/02 8 phút đọc
Khi trẻ có nanh sữa cần phải làm gì? Theo dõi, không tự chích
Khi trẻ có nanh sữa cần phải làm gì? Theo dõi, không tự chích
Phần lớn nanh sữa là nang nhỏ lành tính trên lợi, tự mất sau vài tuần đến vài tháng. Cha mẹ chỉ cần theo dõi, không chích cạy, và
Sức Khỏe Trẻ Em 18/08 7 phút đọc
Giữ lửa phòng the cho đàn ông U60: testosterone, thuốc đang uống và tuyến tiền liệt
Giữ lửa phòng the cho đàn ông U60: testosterone, thuốc đang uống và tuyến tiền liệt
Ở tuổi 60, giữ lửa phòng the chủ yếu là chuyện sức khỏe: kiểm soát bệnh nền, rà lại thuốc đang uống, kiểm tra testosterone khi có
Giới Tính 01/05 8 phút đọc