Những điều cần biết về bệnh suy tim
Bài đăng năm 2016, đã hơn 10 năm. Kiến thức y khoa và hướng dẫn điều trị thay đổi theo thời gian — hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi áp dụng. Về nội dung trên trang
Suy tim là tình trạng tim không tống đủ lượng máu (có chứa dưỡng chất và oxy) để nuôi cơ thể - do sức bóp của tim suy yếu (suy tim tâm thu) hoặc tim giãn nở không đầy đủ (suy tim tâm trương). Dấu hiệu nào để nghi ngờ bị suy tim? Việc phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị căn bệnh này ra sao? Dấu hiệu…
Suy tim là tình trạng tim không tống đủ lượng máu (có chứa dưỡng chất và oxy) để nuôi cơ thể - do sức bóp của tim suy yếu (suy tim tâm thu) hoặc tim giãn nở không đầy đủ (suy tim tâm trương). Dấu hiệu nào để nghi ngờ bị suy tim? Việc phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị căn bệnh này ra sao?
Dấu hiệu nghi ngờ
Siêu âm tim giúp đánh giá tim co bóp còn tốt hay không, tim có dày giãn thất hay không và có thể giúp tìm nguyên nhân suy tim (bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh, tràn dịch màng ngoài tim…).
BNP (natriuretic peptide týp B) thường gia tăng khi thành tim bị căng ra và áp suất trong buồng tim tăng lên. Khi nồng độ BNP trong máu lớn hơn 500 pg/ml thì có khả năng rất cao bị suy tim. Khi nồng độ 100 - 500 pg/ml, có khả năng bạn bị suy tim nhưng đang điều trị, hoặc bắt đầu suy tim, hoặc có bệnh lý quan trọng khác ảnh hưởng đến tim (nhồi máu phổi, ung thư phổi…). Khi nồng độ dưới 100 pg/ml thì khả năng suy tim thấp.
Điện giải đồ (giúp cho việc điều chỉnh điện giải khi sử dụng lợi tiểu), creatinin máu (để biết tình trạng chức năng thận), xét nghiệm chức năng giáp, xét nghiệm MSCT, DSA động mạch vành...
Khi bạn có các dấu hiệu và triệu chứng nêu trên kèm kết quả X quang tim phổi gợi ý thì suy tim được chẩn đoán. Có thể kết hợp thêm siêu âm tim hoặc sử dụng BNP để hỗ trợ chẩn đoán trong những trường hợp chưa rõ khó thở do tim hay phổi.
Nguyên nhân suy tim
Suy tim có thể là do huyết áp cao không điều trị, bệnh cơ tim thiếu máu, nhồi máu cơ tim, bệnh van tim (hẹp, hở van hai lá, hẹp hở van động mạch chủ), bệnh tim bẩm sinh không điều chỉnh bằng phẫu thuật (thông liên thất, thông liên nhĩ, tứ chứng Fallot, hẹp van động mạch phổi, còn ống động mạch…), viêm cơ tim, cường giáp không điều trị, suy thận mạn, loạn nhịp tim kéo dài...
Thuốc sử dụng
- Cảm giác mau mệt hơn, đặc biệt khi đi lại hay làm một việc mà trước đây bạn thấy bình thường.
- Không thể nằm đầu thấp để ngủ dù trước đây bạn ngủ rất tốt với tư thế ấy. Có khi bạn có cơn khó thở ban đêm và muốn ngồi dậy để thở.
- Phù chân (ấn lõm vùng cẳng chân, bàn chân), có thể kèm tĩnh mạch ở cổ giãn rõ rệt.
Siêu âm tim giúp đánh giá tim co bóp còn tốt hay không, tim có dày giãn thất hay không và có thể giúp tìm nguyên nhân suy tim (bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh, tràn dịch màng ngoài tim…).
BNP (natriuretic peptide týp B) thường gia tăng khi thành tim bị căng ra và áp suất trong buồng tim tăng lên. Khi nồng độ BNP trong máu lớn hơn 500 pg/ml thì có khả năng rất cao bị suy tim. Khi nồng độ 100 - 500 pg/ml, có khả năng bạn bị suy tim nhưng đang điều trị, hoặc bắt đầu suy tim, hoặc có bệnh lý quan trọng khác ảnh hưởng đến tim (nhồi máu phổi, ung thư phổi…). Khi nồng độ dưới 100 pg/ml thì khả năng suy tim thấp.
Điện giải đồ (giúp cho việc điều chỉnh điện giải khi sử dụng lợi tiểu), creatinin máu (để biết tình trạng chức năng thận), xét nghiệm chức năng giáp, xét nghiệm MSCT, DSA động mạch vành...
Khi bạn có các dấu hiệu và triệu chứng nêu trên kèm kết quả X quang tim phổi gợi ý thì suy tim được chẩn đoán. Có thể kết hợp thêm siêu âm tim hoặc sử dụng BNP để hỗ trợ chẩn đoán trong những trường hợp chưa rõ khó thở do tim hay phổi.
Nguyên nhân suy tim
Suy tim có thể là do huyết áp cao không điều trị, bệnh cơ tim thiếu máu, nhồi máu cơ tim, bệnh van tim (hẹp, hở van hai lá, hẹp hở van động mạch chủ), bệnh tim bẩm sinh không điều chỉnh bằng phẫu thuật (thông liên thất, thông liên nhĩ, tứ chứng Fallot, hẹp van động mạch phổi, còn ống động mạch…), viêm cơ tim, cường giáp không điều trị, suy thận mạn, loạn nhịp tim kéo dài...
Thuốc sử dụng
- Thuốc lợi tiểu để thải bớt nước ứ trong cơ thể (Lasix, Aldactone…), thuốc giãn mạch như ức chế men chuyển (captopril, enalapril) hoặc ức chế angiotensin (losartan, irbesartan), có thể kèm isosorbide.
- Thuốc ức chế bêta (bisoprolol, Carvedilol...) thường sử dụng khi hết phù hoặc khó thở.
- Bổ sung kali khi có hạ kali máu do dùng thuốc lợi tiểu; thuốc trợ tim (digoxin) cho những người có phân suất tống máu thấp (EF < 45%); thuốc kháng tiểu cầu (aspirin, clopidogrel) nếu có thiếu máu cơ tim, hoặc kháng đông (Sintrom) nếu có rung nhĩ…; có thể kèm thuốc chống loạn nhịp (nếu có loạn nhịp) và thuốc giảm mỡ.








