Dấu hiệu viêm phổi khi trẻ thở nhanh: cách đếm nhịp thở và ngưỡng theo tuổi
Trẻ dưới 2 tháng thở từ 60 lần/phút, 2–12 tháng từ 50, 1–5 tuổi từ 40 lần/phút là thở nhanh – dấu hiệu sớm của viêm phổi. Kèm rút lõm lồng ngực, tím tái, bỏ bú hay li bì thì phải đi cấp cứu.
Thở nhanh là dấu hiệu sớm và đáng tin nhất để cha mẹ nghi trẻ bị viêm phổi: theo Tổ chức Y tế Thế giới, trẻ dưới 2 tháng thở từ 60 lần/phút, trẻ 2–12 tháng từ 50 lần/phút, trẻ 1–5 tuổi từ 40 lần/phút trở lên là thở nhanh. Trẻ ho mà thở nhanh cần được bác sĩ khám trong ngày. Nếu kèm rút lõm lồng ngực, tím tái, bỏ bú, co giật hay li bì thì phải đi cấp cứu ngay.
Vì sao phải đếm nhịp thở?
Ở trẻ nhỏ, viêm phổi có thể chỉ biểu hiện bằng ho và sốt giống cảm lạnh. Tiếng ran phổi không phải lúc nào nghe cũng thấy, X-quang không có sẵn mọi nơi. Trong khi đó, phổi bị viêm thì trao đổi khí kém, trẻ phải thở nhanh hơn để bù. Vì vậy chương trình xử trí lồng ghép bệnh trẻ em của WHO chọn đếm nhịp thở làm công cụ chính để nhân viên y tế – và cả cha mẹ – phát hiện viêm phổi sớm. Bạn chỉ cần một chiếc điện thoại có đồng hồ bấm giờ.
Cách đếm nhịp thở đúng
- Chọn lúc trẻ nằm yên: đang ngủ hoặc thức nhưng không khóc, không bú, không vừa chạy nhảy. Đếm lúc trẻ đang khóc sẽ ra con số sai.
- Vén áo để nhìn thấy ngực và bụng. Trẻ nhỏ thở chủ yếu bằng bụng: mỗi lần bụng (hoặc ngực) phồng lên rồi xẹp xuống là một nhịp.
- Đếm đủ 60 giây, không đếm 15 giây rồi nhân 4 – nhịp thở trẻ nhỏ không đều, có lúc ngừng ngắn rồi thở nhanh.
- Nếu kết quả ở sát ngưỡng, đếm lại lần thứ hai.
- Nếu mũi trẻ đang nghẹt, làm thông mũi bằng nước muối sinh lý trước rồi đếm lại – nghẹt mũi cũng làm trẻ thở nhanh, khó.
Ngưỡng thở nhanh theo tuổi (WHO)
| Tuổi | Thở nhanh khi nhịp thở |
|---|---|
| Dưới 2 tháng | Từ 60 lần/phút trở lên |
| Từ 2 tháng đến dưới 12 tháng | Từ 50 lần/phút trở lên |
| Từ 12 tháng đến dưới 5 tuổi | Từ 40 lần/phút trở lên |
Sốt cao cũng làm trẻ thở nhanh hơn. Nếu bé đang sốt, sau khi hạ sốt khoảng một giờ mà nhịp thở vẫn trên ngưỡng thì càng đáng lo. Nhưng đừng vì "chờ hạ sốt" mà trì hoãn khi đã có dấu hiệu nguy hiểm khác.

Rút lõm lồng ngực: dấu hiệu viêm phổi nặng hơn
Bình thường khi hít vào, cả ngực và bụng cùng phồng lên. Rút lõm lồng ngực là khi trẻ hít vào, phần dưới lồng ngực (vùng xương sườn dưới) lại lõm sâu vào thay vì nở ra. Đó là lúc phổi "cứng", trẻ phải gắng sức nhiều để hít khí vào.
Cần phân biệt:
- Chỉ phần mềm giữa các xương sườn hay hõm trên xương ức hơi lõm nhẹ: chưa phải rút lõm lồng ngực theo định nghĩa này, nhưng vẫn là dấu hiệu khó thở cần đi khám.
- Phải nhìn thấy rõ và lặp lại ở mọi nhịp thở, khi trẻ nằm yên, không phải chỉ lúc khóc hay khi đang bú.
- Trẻ dưới 2 tháng có rút lõm nhẹ vì thành ngực mềm; ở lứa tuổi này chỉ tính khi rút lõm mạnh, sâu.
Các dấu hiệu gắng sức thở khác: cánh mũi phập phồng, thở rên (tiếng "hừ" cuối mỗi nhịp thở ra), đầu gật gù theo nhịp thở.
Dấu hiệu nguy hiểm: đi cấp cứu ngay
Trẻ ho hoặc khó thở kèm bất kỳ dấu hiệu nào sau đây cần đến bệnh viện ngay, không đợi sáng mai:
- Không uống được hoặc bỏ bú, bú rất kém.
- Nôn tất cả mọi thứ ăn uống vào.
- Co giật.
- Li bì, khó đánh thức, lả đi.
- Thở rít khi nằm yên (tiếng rít khi hít vào).
- Tím môi, tím quanh miệng, đầu chi; da tái xám.
- Có cơn ngừng thở (nhất là trẻ nhỏ).
- Rút lõm lồng ngực rõ.
Riêng trẻ dưới 2 tháng tuổi
Mọi trường hợp viêm phổi ở trẻ dưới 2 tháng đều được xem là nặng. Đưa trẻ đi viện ngay nếu thở nhanh từ 60 lần/phút, bú kém, sốt (từ 37,5°C đo ở nách) hoặc ngược lại người lạnh, nhiệt độ thấp bất thường, ít cử động. Với trẻ sơ sinh, hạ thân nhiệt có thể là dấu hiệu nhiễm trùng nặng, không chỉ có sốt mới đáng lo. Cách đo nhiệt độ đúng xem tại bài nhiệt độ cơ thể và những điều cần biết.
Đi khám rồi bác sĩ sẽ làm gì?
Bác sĩ đếm lại nhịp thở, nghe phổi, đo độ bão hòa oxy (SpO2) bằng kẹp ngón tay, có thể chụp X-quang và xét nghiệm máu. Tùy mức độ:
- Viêm phổi không có dấu hiệu nặng: nhiều trẻ được điều trị ngoại trú bằng kháng sinh uống, hẹn khám lại sau 2–3 ngày.
- Có dấu hiệu nặng, SpO2 thấp, trẻ nhỏ tháng: nhập viện, thở oxy, kháng sinh đường tiêm.
- Viêm tiểu phế quản do virus (hay gặp ở trẻ dưới 2 tuổi, có khò khè): cũng thở nhanh, nhưng kháng sinh không có tác dụng; điều trị chủ yếu là hỗ trợ.
Uống kháng sinh đúng thuốc, đủ ngày theo đơn, kể cả khi trẻ đã hết sốt. Ngược lại, tự mua kháng sinh cho mỗi lần trẻ ho không ngăn được viêm phổi mà còn gây tác dụng phụ và nuôi vi khuẩn kháng thuốc – xem thêm vì sao kháng kháng sinh liên quan tới tủ thuốc nhà bạn.
Chăm sóc tại nhà khi trẻ ho (và theo dõi viêm phổi)
- Tiếp tục cho bú, cho ăn, chia nhỏ bữa; cho uống thêm nước với trẻ lớn.
- Làm thông mũi bằng nước muối sinh lý trước khi bú, trước khi ngủ.
- Hạ sốt bằng paracetamol theo cân nặng, đúng nhãn hoặc theo hướng dẫn của dược sĩ; mặc thoáng.
- Không quấn kín, trùm chăn khi trẻ ho sốt: vừa làm sốt cao hơn, vừa che mất ngực bụng khiến cha mẹ không nhận ra trẻ thở nhanh, rút lõm.
- Không dùng thuốc ho của người lớn, thuốc có codein; không tự dùng thuốc ho, thuốc cảm cho trẻ dưới 2 tuổi khi chưa hỏi bác sĩ. Trẻ dưới 1 tuổi không dùng mật ong.
- Không xông lá, đánh cảm, cạo gió cho trẻ nhỏ – dễ bỏng, kích ứng đường thở.
- Không hút thuốc trong nhà; khói thuốc làm bệnh hô hấp của trẻ nặng và lâu khỏi hơn.
- Đếm nhịp thở 2–3 lần mỗi ngày trong những ngày trẻ ho, ghi lại con số và giờ đếm để báo bác sĩ.
Mẹo thông mũi an toàn cho trẻ nhỏ có trong bài mẹo trị ngạt mũi cho bé.
Phòng viêm phổi cho trẻ
- Tiêm chủng đủ: các vắc xin trong chương trình (có ho gà, Hib, sởi) và vắc xin phế cầu, cúm theo tư vấn. Đây là nhóm biện pháp phòng viêm phổi hiệu quả nhất.
- Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu, tiếp tục bú mẹ kèm ăn dặm.
- Dinh dưỡng đủ, theo dõi cân nặng; trẻ suy dinh dưỡng dễ viêm phổi nặng.
- Không khói thuốc, hạn chế khói bếp than, củi trong nhà.
- Rửa tay trước khi bế, cho trẻ ăn; người lớn đang ho đeo khẩu trang khi chăm trẻ.
Khi nào cần đi khám
- Cấp cứu ngay: bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào ở trên; trẻ dưới 2 tháng thở nhanh, bú kém, sốt hoặc hạ thân nhiệt.
- Khám trong ngày: trẻ ho kèm thở nhanh theo ngưỡng tuổi; sốt trên 3 ngày; ho đã đỡ rồi sốt lại; khò khè lần đầu.
- Khám sớm: ho kéo dài trên 2 tuần, ho thành cơn rũ rượi, sụt cân.
Hỏi đáp nhanh
Bé 8 tháng thở 52 lần/phút lúc ngủ có phải viêm phổi không?
Với trẻ 2–12 tháng, từ 50 lần/phút là thở nhanh. Nếu bé đang ho, sốt thì cần đưa đi khám trong ngày để bác sĩ đánh giá; nếu kèm rút lõm, bỏ bú, tím thì đi cấp cứu.
Trẻ khò khè có phải đã bị viêm phổi?
Không hẳn. Khò khè hay gặp ở viêm tiểu phế quản, hen, hoặc do đờm mũi. Nhưng khò khè kèm thở nhanh, rút lõm vẫn cần đi khám ngay.
Có cần mua máy đo SpO2 ở nhà không?
Không bắt buộc. Máy đo ngón tay cho người lớn thường đo không chính xác ở trẻ nhỏ. Đếm nhịp thở và nhìn các dấu hiệu nguy hiểm là đủ để quyết định đi khám.
Viêm phổi có lây không?
Vi khuẩn, virus gây viêm phổi lây qua giọt bắn khi ho, hắt hơi. Cho trẻ nghỉ học khi đang sốt, rửa tay thường xuyên và tiêm chủng giúp hạn chế lây.
Trẻ đang uống kháng sinh mà vẫn sốt thì sao?
Thông thường trẻ đỡ sau 2–3 ngày dùng thuốc đúng. Nếu vẫn sốt cao, thở nhanh hơn hoặc ăn kém đi, đưa trẻ khám lại sớm, không tự đổi thuốc.
Nguồn tham khảo
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) – Xử trí lồng ghép bệnh trẻ em (IMCI) và hướng dẫn về viêm phổi trẻ em: who.int
- Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) – Pneumonia: unicef.org
- Bộ Y tế Việt Nam – Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm phổi cộng đồng ở trẻ em
- Hệ thống Y tế Quốc gia Anh (NHS) – Pneumonia; Bronchiolitis: nhs.uk








